Kinh tế Việt Nam và năng lực bứt tốc
- Cập nhật: Thứ tư, 3/9/2025 | 12:00:00 AM
Nền kinh tế Việt Nam đang vươn mình ngoạn mục từ một quốc gia nghèo đói, bị tàn phá bởi chiến tranh, trở thành một trong những nền kinh tế thị trường năng động, hội nhập sâu rộng và đầy triển vọng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
|
|
Thi công tại Dự án đường dây 500kV Lào Cai-Vĩnh Yên, tháng 8-2025. Ảnh: VIỆT LINH
|
Hành trình phát triển ấy không chỉ được đo bằng những chỉ số tăng trưởng mà còn là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng không ngừng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Từ nghèo nàn, chiến tranh đến quốc gia năng động, hội nhập
Nhìn lại hành trình 80 năm phát triển kinh tế, có thể thấy mỗi giai đoạn đều để lại dấu ấn đậm nét về tư duy điều hành, mô hình quản lý và lựa chọn chiến lược tăng trưởng. Năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời trên nền tảng một nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến và phát xít. Suốt mấy chục năm tiếp theo, đất nước phải dồn toàn lực cho các cuộc kháng chiến, bảo vệ và thống nhất Tổ quốc, trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khép kín và phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài.
Giai đoạn sau ngày đất nước thống nhất (1976-1985) là thời kỳ cả nước tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mô hình quản lý quan liêu, bao cấp kéo dài bộc lộ nhiều bất cập, khiến lạm phát có thời điểm vượt quá 700%, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 100USD/năm. Đây là thời kỳ đầy thử thách, song cũng là bước đệm để Đảng ta nhìn thẳng vào sự thật, mạnh dạn đổi mới tư duy và phương thức phát triển.
Chủ trương đổi mới được khởi xướng tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) là bước ngoặt mang tính chiến lược, đánh dấu sự chuyển mình toàn diện của đất nước. Việt Nam dần từ bỏ mô hình bao cấp, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế. Các cải cách mạnh mẽ, quyết đoán đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, ổn định vĩ mô, giảm nghèo nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng dài hạn. Từ một nền kinh tế thuần nông, phụ thuộc viện trợ, Việt Nam từng bước gia nhập sân chơi toàn cầu, ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do và trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Trong suốt 3 thập niên qua, tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) trung bình hằng năm của Việt Nam đạt khoảng 6-7%. Năm 1945, ngân khố quốc gia chỉ có 1,25 triệu đồng Đông Dương, đến nay quy mô ngân sách đã đạt 2,1 triệu tỷ đồng, tăng gần 100.000 lần. Nếu như năm 1990, GDP của Việt Nam đạt 41.955 tỷ đồng thì đến năm 2024, con số này đã là 11.511,9 nghìn tỷ đồng (tương đương 476,3 tỷ USD). Giá trị thương hiệu quốc gia năm 2024 đạt 507 tỷ USD, xếp thứ 32/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng một bậc so với năm 2023. Việt Nam đã lọt vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu về thương mại toàn cầu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), quan hệ thương mại-đầu tư với hơn 200 đối tác trên thế giới; là thành viên của 17 hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.
Trong giai đoạn phát triển mới, điểm nhấn không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng mà còn ở chuyển biến về chất lượng tăng trưởng. Việt Nam đang tích cực chuyển đổi mô hình phát triển từ khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ sang dựa vào đổi mới sáng tạo, số hóa, xanh hóa và phát triển bền vững.
Tiến tới hành trình thịnh vượng
Năng lực bứt tốc của kinh tế Việt Nam không chỉ thể hiện ở các con số tăng trưởng hay quy mô GDP, mà còn nằm ở những phẩm chất nền tảng đã được bồi đắp suốt hành trình dựng nước và giữ nước. Đó là tư duy độc lập, tự chủ; khả năng thích ứng linh hoạt; tinh thần đổi mới sáng tạo; sự phối hợp hiệu quả giữa vai trò kiến tạo của Nhà nước và sức bật của khu vực doanh nghiệp. Những phẩm chất này giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức như chiến tranh, bao vây cấm vận, khủng hoảng tài chính toàn cầu, đại dịch Covid-19 và cả những biến động địa chính trị hiện nay. Không những thế, Việt Nam đang cho thấy năng lực thích ứng nhanh và chuyển mình mạnh mẽ theo xu hướng phát triển xanh và số hóa.
Tại Triển lãm Thành tựu Đất nước đang diễn ra ở Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc gia (Đông Anh, Hà Nội), những con số tăng trưởng ấn tượng, các công trình tầm vóc quốc gia và sản phẩm công nghệ "Made in Vietnam” đã minh chứng rõ nét cho nội lực của nền kinh tế. Gian hàng của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) gây ấn tượng với gần 50 sản phẩm công nghệ, bao gồm cả lĩnh vực dân sự và quân sự, nhiều trong số đó thuộc nhóm công nghệ lõi, chiến lược quốc gia. Gian trưng bày của Tập đoàn Vingroup thu hút người xem với mẫu xe điện cao cấp Lạc Hồng 900 LX lần đầu ra mắt cùng dàn người máy VinRobotics và VinMotion có khả năng tương tác tự nhiên với khách tham quan.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8% trở lên trong năm 2025, hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong các năm tiếp theo và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đây là mục tiêu lớn, đòi hỏi nỗ lực toàn diện và đồng bộ, nhưng hoàn toàn có cơ sở. Nền tảng vĩ mô ổn định, dư địa tăng trưởng còn rộng mở cùng quyết tâm cải cách thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thúc đẩy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là những lực đẩy quan trọng.
Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,52%-mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2025, là minh chứng rõ rệt cho khả năng phục hồi và phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động.
Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, từng trải qua thời kỳ lạm phát phi mã và khủng hoảng kinh tế kéo dài, đến nay Việt Nam đã tạo dựng được vị thế mới trên bản đồ kinh tế thế giới. Thành tựu hôm nay không chỉ là dấu mốc thành công mà còn là nền tảng vững chắc để đất nước tiếp tục hành trình bứt phá, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đúng dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước.
Các tin khác
Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được triển khai trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phát triển văn hóa; Hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao thu nhập, bảo vệ sức khỏe người trồng lúa, tái tạo đất hướng đến nền nông nghiệp sinh thái, vụ mùa năm 2026, Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh triển khai nhiều mô hình canh tác lúa theo phương pháp thân thiện với môi trường.
Trải qua 96 năm xây dựng và phát triển, Hội Nông dân Việt Nam khẳng định vai trò là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nông dân. Phát huy truyền thống đó, các cấp Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, hỗ trợ hội viên phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần xây dựng nông thôn mới nâng cao và đô thị văn minh.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Phạm Văn Thịnh vừa ký ban hành Quyết định số 1229/QĐ-UBND phê duyệt “Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035”.

