Ông Lê Bá Thành, người gieo vụ sớm, cứu giá vải thiều Bắc Ninh là Nhà khoa học của nhà nông năm 2025

  • Cập nhật: Thứ sáu, 26/9/2025 | 12:00:00 AM

Ông Lê Bá Thành – nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh là người đề xuất và đưa vào triển khai mô hình ứng dụng ghép cải tạo các giống vải chín sớm vào vườn vải thiều hiện có, giúp nông dân rải vụ, năng cao chất lượng trái vải và thu nhập cho nông dân.

Ông Lê Bá Thành - Nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh - người vừa được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận là Nhà khoa học của nhà nông năm 2025.
Ông Lê Bá Thành - Nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh - người vừa được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận là Nhà khoa học của nhà nông năm 2025.

Vụ vải thiều ở Lục Ngạn, Bắc Giang trước đây, nay là tỉnh Bắc Ninh diễn ra tập trung cao điểm trong 2 tháng (6 và 7), tạo ra áp lực rất lớn về tiêu thụ, có thời điểm vải chính vụ rớt giá, làm giảm thu nhập của người trồng vải trên địa bàn.

Trong bối cảnh đó, ông Lê Bá Thành – nguyên Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh đã đề xuất và triển khai thực hiện giải pháp ghép cải tạo đưa giống vải chín sớm vào vườn vải thiều hiện có đã giúp nông dân tỉnh Bắc Giang trước kia, nay là tỉnh Bắc Ninh "rải vụ”, tăng chất lượng quả vải, ổn định giá và tăng thu nhập cho nông dân.

Với giải pháp này, mới đây, ông Lê Bá Thành đã được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận là Nhà khoa học của nhà nông năm 2025.

Từ ghép cải tạo vườn tạp tới một dự án khoa học ứng dụng

Sinh ra và lớn lên ở Quý Sơn, Lục Ngạn — vùng đất nổi tiếng với vải thiều — ông Thành từng trải qua nhiều cương vị: từ Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn đến lãnh đạo Sở Nông nghiệp và môi trường tỉnh Bắc Ninh. Hơn 30 năm kinh nghiệm gắn bó với ngành nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực khuyến nông nên ông luôn mong muốn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân.

Từ năm 1994, khi gắn với vùng cây ăn quả ở Lục Ngạn, ông đã bắt tay vào ghép cải tạo vườn tạp, đưa những giống táo, cam, bưởi… mới vào nhằm cải biến, nâng cao chất lượng vườn cây ăn quả, tạo ra giá trị và thu nhập cao hơn cho người dân. "Ghép cải tạo, thời gian kiến thiết cơ bản rất nhanh, mình giữ được gốc cây, bảo vệ nguồn gen và cảnh quan mà lại mang lại hiệu quả cao” – ông Thành nói.

Trải qua nhiều vị trí công tác, ông Lê Bá Thành luôn mong muốn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân, nhất là giải pháp ghép cải tạo táo, cam, bưởi, vải... để nâng cao chất lượng, giá trị cho cây trái trên địa bàn.

Thành công từ việc ghép cải tạo những cây dễ như táo, cam, bưởi, trong quá trình đi học Thạc sỹ ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam, gần với Viện Nghiên cứu Rau quả, ông đã tiếp nhận được cách ghép từ Trung Quốc đối với nhãn, vải – là những cây ghép khó hơn.

"Ở thời điểm những năm 1994-2005, diện tích trồng vải phát triển rất nhanh nhưng chủ yếu là trồng vải thiều chính vụ, khoảng 40.000ha... Đến năm 2010 giá bán vải thiều tụt giảm nghiêm trọng” – ông Thành nói và cho rằng nguyên nhân chủ yếu do tình trạng độc canh cây vải và vải thiều chính vụ là chủ yếu.

Năm 2008, diện tích vải chín sớm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chỉ khoảng 2.500 ha, chiếm 6,1% tổng diện tích trồng vải. ”Các giống vải chín sớm chủ yếu: U hồng, Vai u, U thâm, được trồng tự phát, chất lượng không đồng đều, gây lên tình trạng đầu vụ thiếu, giữa vụ sản ùn ứ sản phẩm, thời gian thu hoạch vải ngắn, khó tiêu thụ đã làm cho giá vải xuống thấp gây hoang mang lo lắng cho người trồng vải” – ông Thành chia sẻ.

Nhận diện nguyên nhân khiến giá vải xuống thấp, diện tích giống chính vụ chiếm tỷ trọng lớn, thời gian thu hoạch tập trung, thị trường khó hấp thụ, từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2008, ông Lê Bá Thành đã đề xuất và triển khai sáng kiến: Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ghép cải tạo cây vải để cơ cấu lại giống vải tỉnh Bắc Giang.

Mục tiêu mô hình ghép cải tạo nhằm cơ cấu lại các trà vải, trong đó tăng diện tích vải chín sớm, kéo dài thời gian thu hoạch. Thay vì phải phá vườn vải đi trồng mới, ghép cải tạo vườn vải bằng các giống vải chín sớm chất lượng.

Nhờ giải pháp ghép cải tạo, tỷ lệ diện tích vải chín sớm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũ, nay là tỉnh Bắc Ninh tăng mạnh từ 6,1% lên 27%.

Dự án chọn 2 giống vải chín sớm có chất lượng cao làm đối tượng ghép, đó là giống vải Bình Khê (Đông Triều, Quảng Ninh), giống vải U trứng (Thanh Hà, Hải Dương). Mắt ghép được chọn ở những cây có năng suất, chất lượng cao. Cành ghép là cành bánh tẻ có từ 3-4 tháng tuổi. Cành để lấy mắt phải là cành khỏe không sâu bệnh ở tầng tán giữa vươn ra ngoài ánh sáng.

Lúc đầu dự án triển khai thí điểm khoảng 4ha với 16 hộ dan ở 2 xã của tỉnh Bắc Giang trước đây là: xã Liên Sơn (huyện Tân Yên), xã Quý Sơn (huyện Lục Ngạn). Trước thời điểm vào vụ ghép vải, các hộ tham gia được tập huấn phương pháp ghép nêm cành cho cây vải. "Đây là phương pháp thích hợp đối với ghép cải tạo cây vải, phương pháp này có kỹ thuật đơn giản, tỷ lệ ghép sống cao” – ông Thành đánh giá và cho biết.

Kết quả, tỷ lệ mắt sống sau ghép đạt 80% tại Tân Yên và 75% tại Lục Ngạn. Thời gian ra quả sau ghép được ghi nhận là 1–2 năm ở Tân Yên và khoảng 2 năm ở Lục Ngạn. Đánh giá cảm quan, chỉ tiêu hoá lý cho thấy, quả vải ghép giữ được đặc trưng giống (độ Brix, Vitamin C, chất khô, vị) tương đương cây chiết.

Quả vải thiều được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Nhật Bản năm 2021, chất lượng vải thiều tươi đảm bảo đủ điều kiện xuất khẩu đi 30 nước, vùng lãnh thổ.

Hiện nay đa số người dân trồng vải thiều trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã ứng dụng quy trình ghép cải tạo, tỷ lệ diện tích vải chín sớm trên địa bàn tăng mạnh từ 6,1% lên 27%, góp phần quan trọng trong việc rải vụ và giảm áp lực tiêu thụ cho vụ chính. Việc người dân nhân rộng phương pháp ghép cải tạo cũng mở ra hướng ứng dụng cho nhiều đối tượng cây ăn quả khác.

Người truyền lửa ở giữa đồng ruộng

Điều làm nên thành công của mô hình ghép cải tạo vườn vải không chỉ là kỹ thuật mà là cách tiếp cận. Ông Lê Bá Thành - với hơn 30 năm gắn bó thực tiễn, kinh nghiệm quản lý địa phương và khả năng kết nối viện-trường-nông dân - đã đưa khoa học xuống tận vườn. Ông cùng nhóm chuyên môn tổ chức tập huấn, hội nghị đầu bờ, hướng dẫn kỹ thuật từng bước để người dân "biết làm và dám làm”.

Điểm mạnh của giải pháp ghép cải tạo không chỉ là kỹ thuật dễ áp dụng trên vườn vải thiều hiện hữu mà còn là hiệu quả kinh tế rõ rệt: giá bán vải sớm ổn định và cao hơn, thu nhập bình quân theo đánh giá có thể đạt 250–300 triệu đồng/ha đối với vải sớm.

Ngoài lợi ích thu nhập, ghép cải tạo còn giúp rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản so với trồng lại hoàn toàn, tận dụng bộ khung tán và bộ rễ sẵn có của vườn, giảm chi phí và rủi ro cho nhà vườn.

Dù hiệu quả kỹ thuật rõ rệt, ông cũng chỉ ra giới hạn: nếu chỉ thay đổi giống mà không kết nối thị trường thì vẫn có thể gặp cảnh "được mùa rớt giá”. Vì thế, giải pháp bền vững đòi hỏi liên kết chuỗi — từ hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua, cơ sở đóng gói đến kênh xuất khẩu, kết hợp hồ sơ chỉ dẫn kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng để vải sớm tiếp cận thị trường trong nước và nước ngoài ổn định.

Ông Lê Bá Thành kiểm tra lô vải chín sớm xuất khẩu.

Quả vải thiều được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Nhật Bản năm 2021, chất lượng vải thiều tươi đảm bảo đủ điều kiện xuất khẩu đi 30 nước, vùng lãnh thổ. Điều ông Thành quan tâm là người dân trồng vải cần chú trọng cắt tỉa để giảm sản lượng và nâng cao chất lượng quả vải to, đẹp, qua đó nâng giá trị trái vải lên.

Bày tỏ vinh dự khi được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công nhận là Nhà khoa học của nhà nông năm 2025, ông Lê Bá Thành cho biết, ông rất tự hào và sau khi nghỉ công tác quản lý, ông sẽ có nhiều thời gian hơn để tiếp tục đưa các tiến bộ kỹ thuật mới trong nông nghiệp đến với nông dân trong thời gian tới.

Theo BBN ĐT

 


Các tin khác
Phó Chủ tịch UBND thành phố Ngô Tân Phượng phát biểu chỉ đạo tại điểm cầu thành phố Bắc Ninh.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được triển khai trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia gồm: Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Phát triển văn hóa; Hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Hội viên nông dân tham quan mô hình canh tác lúa thân thiện với môi trường của gia đình bà Nguyễn Thị Thoa.

Với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao thu nhập, bảo vệ sức khỏe người trồng lúa, tái tạo đất hướng đến nền nông nghiệp sinh thái, vụ mùa năm 2026, Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh triển khai nhiều mô hình canh tác lúa theo phương pháp thân thiện với môi trường.

Lãnh đạo Hội Nông dân thành phố thăm khu chế biến của Công ty trách nhiệm hữu hạn rau sạch Yên Dũng (phường Cảnh Thụy).

Trải qua 96 năm xây dựng và phát triển, Hội Nông dân Việt Nam khẳng định vai trò là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nông dân. Phát huy truyền thống đó, các cấp Hội Nông dân thành phố Bắc Ninh tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, hỗ trợ hội viên phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần xây dựng nông thôn mới nâng cao và đô thị văn minh.

Bắc Ninh phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Phạm Văn Thịnh vừa ký ban hành Quyết định số 1229/QĐ-UBND phê duyệt “Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035”.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
Thời sự